ĐOÀN NAM HƯƠNG
Trong thời đại chúng ta, thời đại của trí tuệ và những phát minh khoa học, xã hội đặc biệt quan tâm, chú ý đến khả năng sáng tạo và sự phát triển nhân cách của cá nhân con người. Song sự phát triển nhân cách con người lại không tách rời mà là sản phẩm của một nền văn hoá nhất định, sự phát triển nhân cách dựa vào quá trình cá nhân học hỏi, nhập tâm những giá trị văn hoá, xã hội. Như vậy sự hình thành và phát triển nhân cách chính là quá trình văn hoá hoá con người.
Văn hoá là một khái niệm có nội hàm rất rộng, rất bao quát và có ý nghĩa nhiều mặt. Văn hoá được hiểu chung nhất là mọi sự sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người, phục vụ sự tiến bộ xã hội. Văn hoá như là mô hình của tư tưởng và mô hình hành vi đặc thù cho con người và cho xã hội. Với ý nghĩa phong phú như vậy văn hoá thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như một trù mật của tự nhiên. ...
Văn hoá ngày càng trở nên quan trọng đối với con người, là thước đo đánh giá mọi hoạt động xã hội, là nhân tố mà người ta dựa vào đó để dự tính cho trước mắt và cả tương lai.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học –công nghệ, con người càng có xu hướng chạy theo sự tiêu dùng vật chất. Xã hội càng vươn cao, tiện nghi càng nhiều, nhưng chính sự sùng bái vật chất là tai hoạ của nhân loại: nạn ô nhiễm môi trường, xung đột sắc tộc, căn bệnh hiểm ngèo… Chính vì vậy ngày nay mọi bộ phận con người muốn thoát khỏi sự cám dỗ của vật chất, hướng tới sự thánh thiện, phong phú của đời sống tinh thần, hướng tới văn hoá, coi văn hoá là sự hoàn thiện của phát triển xã hội loài người. Nói đến văn hoá là nói đến cái bản chất, cái tinh tuý nhất, sau khi đã đánh mất tất cả, thì cái còn lại là văn hoá. Xã hội thường xuyên biến đổi còn văn hoá lại ổn định, bền vững, thế kỷ XXI là thế kỷ văn hoá tinh thần.
Đối với cá nhân thì văn hoá biểu hiện trong nhân cách, nó được nhận diện thông qua hoạt động và quan hệ của mỗi người. Là niềm tin và khát vọng, là năng lực của cá nhân, thành viên xã hội để tạo ra một cách sống chung. Mô hình sống chung đó chính là mô hình văn hoá xã hội. Và mô hình này đến lượt nó lại ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân.
Người ta thường giả định rằng bất cứ một xã hội nào đó đều có một lô gích nhất định chi phối toàn bộ sự vận hành của xã hội từ thiết chế kinh tế, chính trị, đến nhân sinh quan, cách ứng xử, cả công cụ lao động, các nhà xã hội học thường nói đến khái niệm văn hoá theo ý nghĩa này. Trong đó văn hoá thể hiện vai trò đặc biệt của nó tới việc hình thành nhân cách.
Nhân cách có thể được hiểu là tổng thể về phương diện lối sống, lối ứng xử, về tác phong đã định hình ở cá nhân và hình thành trên nền tảng những giá trị, những qui tắc nhất định.
Sự hình thành nhân cách còn chịu ảnh hưởng bởi khía cạnh sinh học, tới những yếu tố bẩm sinh nhưng cái ảnh hưởng sâu sắc nhất, ghi dấu ấn đậm nét lên lối sống, lối ứng xử cá nhân lại là văn hoá.
Người ta thường nói đến một trong những khám phá lớn trong khoa học xã hội đầu thế kỷ XX. Đó là thuyết phân tâm học của trường phái Freud về vai trò của việc nuôi nấng ban đầu của sự hình thành nhân cách đứa trẻ. Nhưng đối với nhà xã hội học thì việc nuôi nấng này hoàn toàn không mang tính cá nhân, mà luôn tuân theo một khuôn mẫu văn hoá xã hội đến khuôn mẫu nhân cách, ở đây vai trò của hệ thống giáo dục lại đóng vai trò quyết định trong việc truyền đạt những khuôn mẫu ấy.
Một thí dụ về mối liên hệ giữa quá trình giáo dục và nhân cách: Người ta thường thấy rằng người Rumani thường bằng lòng với những cái gì mà người ta đã có, luôn an phận theo sự an bài của định mệnh, người Mỹ thì lạc quan hơn có chí tiến thủ hơn, họ luôn nhìn về phía trước. Tại sao như vậy? Vì cả hai xã hội, bà mẹ Rumani và bà mẹ Mỹ đều rất thương yêu và dạy dỗ con cái chu đáo. Nhưng khi khảo sát sâu hơn người ta thấy rằng có sự khác biệt lớn. Các bà mẹ Mỹ thường thương con có điều kiện, có nghĩa là có dấu hiệu yêu quý, vỗ về khen thưởng chỉ khi con cái ngoan ngoãn, còn nếu con hư mẹ lại tỏ ra nghiêm khắc. Còn trong xã hội Rumani tình thương của mẹ là vô điều kiện cả lúc con ngoan cũng như lúc con hư. Như vậy, mối liên hệ giữa hai lối dạy trẻ trên đã tạo nên hai khuynh hướng nhân cách một bên lạc quan hơn vươn lên để làm chủ số phận, còn bên kia thì bi quan, phó mặc cho số phận. Dĩ nhiên cần coi nhận định trên là giả thuyết.
Max Weber (nhà xã hội học nổi tiếng người Đức) coi văn hoá là khuôn mẫu của hành vi và là sự định hướng mang tính nguyên tắc cho hành động của con người. Khi phân tích về hành động xã hội, ông đã phân ra 4 loại hành động khác nhau (2;tr.268-269). Trong đó có 2 loại hành động bi chi phối mạnh mẽ bởi yếu tố văn hoá. Đó là hành động theo định hướng giá trị và hành động theo truyền thống. Nếu hành động theo giá trị luôn có sự suy nghĩ nghiêm túc, hay hành động thế nào để có giá trị, hợp giá trị (mà giá trị là hạt nhân của một nền văn hoá) thì hành động theo truyền thống lại là hành động theo khuôn mẫu ứng xử đã hình thành trong lịch sử gắn với một dân tộc. Song các giá trị xã hội hay những phong tục truyềnthống đều là các quy chuẩn của mô hình văn hoá.
Ở ý nghĩa này có thể hiểu văn hoá như một cấu trúc bề sâu, còn cuộc sống, còn xã hội là bề mặt trên của lớp bề sâu ấy. Văn hoá được phân theo những tầng lớp khác nhau, tiềm ẩn. Ở độ sâu này ta thấy có sự sắp xếp các quy tắc văn hoá điều chỉnh bề mặt. Điều đó giúp ta phân biệt được sự khác nhau từ văn hoá tới việc giáo dục, nuôi dạy và hình thành nhân cách con người trong xã hội.
Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu con người và xã hội” (3;tr.183). Giáo sư Joanchim Matthes (CHLB Đức) đã đề cập tới một ví dụ rất sinh động: từ văn hoá tới nhân cách: Ở bãi biển nọ có hai người mẹ Đức đang ngồi trên chiếc ghế coi con mình chơi trên đống cát. Hai trẻ cãi nhau và đánh nhau. Hai bà mẹ làm gì? Họ lôi hai đứa trẻ ra và quở trách con người khác cho rằng lỗi là ở người kia và cuộc tranh cãi sẽ gay gắt đến độ có thể hai bà mẹ sẽ cãi nhau. Ông giả sử rằng nếu hai bà mẹ đó là người Malaixia thì cách ứng xử lại khác. Hai bà mẹ cũng lôi hai đứa trẻ ra và dàn xếp một cách nhẹ nhàng, họ không mắng con người khác mà lại chê trách con mình đồng thời hai bà mẹ thông cảm nhau. Tại sao lại có sự khác nhau trong hai cách phản ứng này, phải chăng nó xuất phát từ sự khác biệt trong văn hoá ứng xử của mỗi dân tộc. Hai bà mẹ Đức chỉ giao tiếp với nhau khi con cái họ cãi lộn và trong giao tiếp dẫn tới mâu thuẫn (cãi nhau) còn hai bà mẹ Malaixia ngay từ đầu ngồi trên ghế họ đã tiếp xúc, làm quen với nhau từ đó việc giải quyết khi có tình huống chung rõ ràng dễ dàng hơn. Tứ ví dụ này ta có thể liên hệ tới những hành vi giáo dục khác nhau để rút ra việc tổ chức giáo dục ở trường học.
Vậy rõ ràng nhân cách cá nhân phần lớn là sản phẩm của các thiết chế và văn hoá xã hội. Nhân cách phát triển và định hình chủ yếu theo khuôn mẫu nào đó mà xã hội hun đúc nên.
Ở Việt Nam quan điểm chủ đạo của Đảng ta là: “Xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. (4) Từ mô hình văn hoá ấy sẽ hình thành nhân cách mới, nhân cách XHCN Việt Nam. Tức con người Việt Nam mới vừa kết tinh được những trí tuệ của nền văn minh nhân loại của thời đại khoa học kỹ thuật, thông qua sự giao lưu mạnh mẽ giữa các nền văn hoá trên thế giới. Với con người Việt Nam yêu nước, thông minh, thủy chung, giàu tình cảm…Tuy nhiên để hình thành nhân cách đó nhiệm vụ của chúng ta là phải xây dựng một hệ thống giáo dục khoa học, hiện đại. Bởi văn hoá cá nhân cũng chính là quá trình học hỏi, quá trình nhập tâm các giá trị xã hội và chúng ta càng ghi nhận lời dạy của Bác Hồ vĩ đại:
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên (5;tr.221).
Từ cách nhìn đó nhân cách chính là sự kết tinh các giá trị văn hoá tinh thần mà cá nhân có được thông qua sự học hỏi để vươn lên cái hay đẹp của chính mình.
CULTURE AND PERSONALITY
DOAN NAM HUONG
By studying culture and personality and their relationship, the author mentions the people education methods of different peoples in forming the personality and raises the question of how education can from the new personality –the Vietnamese socialist personality in the Vietnamese cultural background –“advance and highly national character”.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1.F.Mayo –Ban đầu và cuối cùng cũng là văn hoá. “Người đưa tin UNESCO”, 1994.N.10
2.Từ điển Xã hội học phương tây hiện đại –Moscow, 1991.
3. GS. Joachim Matthes –Một số vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu con người và xã hội, Hà Nội, 1994.
4.Nghị quyết TW5 của Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam.
5.Hồ Chí Minh –Nhật kí trong tù –NXB Văn học, Hà Nội, 1991.
Nguồn: www.hcmussh.edu.vn/USSH/.../Journal051006110446.doc
