PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI:
sự tách biệt các lao động khác nhau trong xã hội. Phân công lao động gắn liền với chuyên môn hoá sản xuất - kinh doanh, nên mang ý nghĩa tích cực, tiến bộ, và là biểu hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Các loại PCLĐXH: phân công lao động chung là phân chia nền kinh tế thành các loại sản xuất khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, vận tải...; phân công lao động riêng (phân công lao động đặc thù) là phân chia sản xuất thành những ngành và phân ngành như công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi...; phân công lao động cá biệt là phân công trong nội bộ xí nghiệp. Điều kiện của sự PCLĐXH là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Đến lượt nó, PCLĐXH lại là nhân tố phát triển của lực lượng sản xuất. ...
sự xuất hiện các nhóm cư dân khác nhau về địa vị xã hội và tài sản trong quá trình tan rã của xã hội nguyên thuỷ. PHXH thường đi đôi với phân hoá giàu nghèo. Khi một số người có nhiều của cải họ có điều kiện để vươn lên địa vị cao trong xã hội, và một khi đã có địa vị cao trong xã hội thì lại có điều kiện để tích luỹ của cải, nhiều hơn nữa. Trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thuỷ còn thịnh hành tập tục phân phối bình quân, nên một phần của cải thừa được dùng làm quà tặng và ăn uống. Điều này làm cho người có của cải thừa có uy tín trong xã hội. Cơ sở kinh tế của sự PHXH là sự xuất hiện đều đặn lúc đầu là của cải thừa, sau là sản phẩm thặng dư. Điều này cho phép những người cầm đầu trong xã hội (tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh quân sự, người cầm đầu tôn giáo), tích luỹ của cải riêng để trở thành tầng lớp trên của xã hội. Như vậy, nội bộ công xã thị tộc bắt đầu phân hoá, dần dần tư hữu xuất hiện dẫn đến sự hình thành giai cấp và cùng với nó là tình trạng người bóc lột người. Cuối cùng là xuất hiện giai cấp. Những giai cấp này khác nhau về vị trí trong hệ thống sản xuất xã hội, về mối quan hệ đối với phương tiện sản xuất, về vị trí trong tổ chức lao động xã hội, về sự phân phối và hưởng thụ thành quả lao động. Khi xã hội thị tộc bị tan rã thì nhà nước xuất hiện trên cơ sở đối kháng giai cấp.
QUAN HỆ XÃ HỘI:
những quan hệ giữa người với người hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, vv. Trong toàn bộ các QHXH, quan hệ sản xuất là quan hệ có vai trò quyết định. Những QHXH khác (chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá, tôn giáo, vv.) là những quan hệ phụ thuộc, nhưng cũng có tác động tích cực trở lại đối với quan hệ sản xuất. Việc nhận thức mối liên hệ biện chứng ấy giữa các QHXH là chỗ dựa cho việc giải thích một cách khoa học quy luật phát triển của xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có những QHXH nhất định. Trong xã hội có giai cấp, các QHXH mang tính giai cấp. Việc phân tích và đánh giá đúng các quan hệ giai cấp ấy là một trong những điểm xuất phát quan trọng cho việc đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn của chính đảng cách mạng. Chủ nghĩa xã hội thiết lập một hệ thống các QHXH mới, khác về chất so với xã hội tư bản. Ở đây, tình trạng người bóc lột người không còn, tính chất đối kháng được xoá bỏ, cùng với bước chuyển từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản, những sự khác nhau về giai cấp dần dần được khắc phục.
SỰ CƯỠNG BỨC XÃ HỘI:
khái niệm của trường phái xã hội học Pháp Đuyêckhem E. (E. Durkheim), chỉ tính chất chủ yếu của sự kiện xã hội là khả năng của nó, ở bên ngoài cá nhân, buộc cá nhân phải suy nghĩ và hành động như những người khác, một cách có ý thức hay không có ý thức. SCBXH là tiêu chuẩn dễ dàng nhận thấy nhất của xã hội. Đó là sức ép xã hội có tính chất đạo đức là chủ yếu và có nguồn gốc ở con người. Nó khác với những cưỡng bức mà con người phải chịu của thế giới vật lí và những quyết định luận sinh học. SCBXH là: sự tác động có tính chất mệnh lệnh của một quy tắc hành vi, như luật lệ, chuẩn mực xã hội, tập quán hay quy ước xã hội; tính tất yếu lôgic phải sử dụng một phương tiện nào đó, nếu người ta muốn đạt tới một mục đích, một ảnh hưởng nhất định giống như những luồng dư luận đẩy tới chỗ phải kết hôn, tự sát, sinh đẻ ít hơn mà chúng ta chấp nhận, một phản ứng tập thể có tính chất dây chuyền, lây nhiễm trong một cuộc họp hoặc là trong một đám đông.
SỰ THÍCH ỨNG XÃ HỘI :
sự biến đổi của cá nhân trong quá trình tiếp xúc với môi trường xã hội; kết quả là những sự khác nhau, những sự không hoà hợp tồn tại trước kia giữa cá nhân và môi trường xã hội giảm bớt hoặc mất đi. Khái niệm “thích ứng” được phát triển ở thế kỉ 19 trong sinh học, lí thuyết tiến hoá; sau đó được mở rộng, sang lĩnh vực tâm lí học và nhất là lĩnh vực xã hội học. Ngày nay, trên cơ sở phát triển của khoa học tự động hoá, sự thích ứng được phân tích như là sự ăn khớp với nhau một cách liên tục giữa những mối quan hệ của hai hệ thống. Hai hệ thống này vẫn có thể được gọi bằng những cái tên cổ điển trước kia đã dùng là “cơ thể” và “môi trường”. Trong xã hội học, người ta đi tới hai khuynh hướng khác nhau, theo đó “môi trường” được hiểu là xã hội hoặc nhóm, còn “cơ thể” là cá nhân, hay cá thể.
Theo khuynh hướng thứ nhất, STƯXH của cá nhân với môi trường thường trải qua giai đoạn không chấp nhận, thậm chí còn có cả tính xung đột, song cũng lại có những khả năng tác động ngược lại đến môi trường, như các hệ thống giáo dục, hướng nghiệp, các quan hệ con người, vv. cho nên, cuối cùng sự thích ứng được thực hiện.
Theo khuynh hướng thứ hai, sự thích ứng của các cơ thể xã hội với môi trường có thể được nghiên cứu trong truyền thống sinh học của khái niệm, dưới góc độ của những tập hợp kiểu gen. Nói chung, xã hội học nghiên cứu sự thích ứng này với một quan điểm ít tĩnh hơn, và quan tâm đến sự tác động qua lại giữa các hệ thống. Sự thích ứng khi đó có thể được nghiên cứu như một trong những nhân tố chủ yếu của sự tiến hoá, nhân tố bảo đảm truyền đi sự thay đổi từ một hệ thống hay một phân hệ này sang một hệ thống hay phân hệ khác trong khuôn khổ của một quan niệm toàn bộ về xã hội.
Khái niệm thích ứng ngày càng phức tạp hơn khi người ta chuyển từ sinh học sang tâm lí, rồi sang xã hội học vi mô và cuối cùng là xã hội học vĩ mô. Nó trở nên ngày càng lệ thuộc vào tiêu chuẩn về sự ăn khớp với nhau được chấp nhận. Tuy khái niệm thích ứng có sự tiến triển, song vẫn còn sắc thái của khuynh hướng sinh học trong xã hội học, thể hiện ở quan niệm của các nhà chức năng luận (xt. Chủ nghĩa chức năng).
TỆ NẠN XÃ HỘI:
hiện tượng xã hội có tính phổ biến, lan truyền, biểu hiện bằng những hành vi lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng. TNXH bao gồm: mại dâm, nghiện ma tuý, cờ bạc, mê tín dị đoan, vv. TNXH là cơ sở xã hội của tình trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm. Phòng chống TNXH là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp đồng bộ, tích cực và triệt để.
THÍCH NGHI XÃ HỘI:
quá trình thích ứng diễn ra một cách chủ động và tích cực của con người với điều kiện của môi trường xã hội mới. Nội dung của TNXH là những phù hợp, tương ứng về mục đích, định hướng giá trị, về mức sống, lối sống và phương thức hoạt động của các cá nhân đối với nhóm, tập đoàn và môi trường xã hội của mình. TNXH yêu cầu mỗi cá nhân của nhóm rèn luyện ý thức hoà nhập với các chuẩn mực, phong tục, tập quán, các giá trị của nhóm và tuân theo một cách có chủ định và tự động.
THIẾT CHẾ XÃ HỘI:
khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội. Nhờ các TCXH mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng. Về mặt tổ chức, TCXH là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân. Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức. Đó là phong tục, tập quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng xã hội. Các TCXH đều có nhiệm vụ: đáp ứng các loại nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận trong cộng đồng và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ phận, đảm bảo sự ổn định của cộng đồng. Có nhiều loại thiết chế khác nhau: 1) Thiết chế kinh tế bao gồm những thiết chế liên quan đến việc sản xuất và phân phối của cải, điều chỉnh sự lưu thông tiền tệ, tổ chức và phân công lao động xã hội. 2) Thiết chế chính trị là những thiết chế như chính phủ, quốc hội, các đảng phái và tổ chức chính trị ... 3) Thiết chế tinh thần là những thiết chế liên quan đến các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, tôn giáo. 4) Thiết chế giao tiếp công cộng bao gồm tất cả các khuôn mẫu và phương thức hành vi trong sự giao tiếp công cộng. Các mối quan hệ xã hội giữa người với người đều kinh qua những thiết chế. Những thiết chế này đều có tính độc lập tương đối so với các quan hệ xã hội ấy. Thiết chế thường có tính chất lạc hậu hơn so với các biến đổi của các quan hệ xã hội. Việc cải biến và thay đổi các TCXH liên quan trực tiếp đến quản lí xã hội và các chính sách xã hội.
Theo Bách khoa thư
Nguồn:
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1BA6aWQ9MjQwMzcmZ3JvdXBpZD0ma2luZD0ma2V5d29yZD14JWMzJWEzK2glZTElYmIlOTlp&page=1
